Sony Music và DSW cùng rút đơn kiện liên quan đến các bản ghi được sử dụng trong hoạt động quảng bá trên mạng xã hội của nhà bán lẻ. Tranh chấp được nêu đã kết thúc, nhưng điều đó không cho nhà quảng cáo khác biết họ được làm gì với chính những bản ghi ấy. Với một hãng đĩa độc lập, câu hỏi hữu ích hơn là: giấy phép nào áp dụng cho bản ghi, chiến dịch và kênh cụ thể đang được cân nhắc?
Ba hồ sơ, ba lập trường khác nhau
Động từ được dùng trong cập nhật về tòa án rất quan trọng. Trong tranh chấp với DSW, hai bên cùng rút đơn kiện, còn các điều khoản dàn xếp không được tiết lộ. Hãng đĩa không thuộc thỏa thuận đó không thể dựa vào việc rút đơn để tính phí hoặc xác định mục đích sử dụng được phép. Việc này chỉ cho thấy các bên đã kết thúc vụ kiện đó.
Trong một vụ kiện bản quyền riêng biệt, ba nhạc sĩ đề nghị rút yêu cầu của họ gần bốn tháng sau khi nộp đơn. Điều đó mô tả hành động của bên đưa ra yêu cầu. Nó không cung cấp điều khoản nào cho một nhạc sĩ khác đang đánh giá yêu cầu tương tự, cũng không cấp phép cho người dự định sử dụng nhạc. Coi việc rút đơn trong một trong hai vụ là mẫu cấp phép công khai sẽ đòi hỏi những thông tin mà hồ sơ không cung cấp.
Trong khi đó, Suno đề nghị tòa bác các yêu cầu do Jason Isbell và David Lowery đưa ra, với lập luận rằng việc nhắc đến nghệ sĩ trong lời nhắc tạo nhạc là phát ngôn được bảo vệ. Đây là lập luận của bị đơn và yêu cầu tòa ra phán quyết, chứ không phải việc bác đơn. Lập luận này liên quan đến việc nhắc tên trong lời nhắc. Không nên mở rộng nó thành câu trả lời về việc có được phép dùng bản ghi trong quảng cáo hay không.
Những khác biệt này cho chủ sở hữu quyền một bước đầu tiên thiết thực. Trước khi thay đổi chính sách cấp phép vì một vụ kiện, hãy xác định ai đã nộp hồ sơ, tranh chấp liên quan đến hành vi nào và tòa đã có hành động hay chưa. Yêu cầu từ nguyên đơn, việc hai bên cùng rút đơn và đề nghị của bị đơn đều truyền tải thông tin khác nhau. Chỉ riêng tên gọi của chúng không ấn định điều khoản cho giấy phép tiếp theo.
Đối chiếu giấy phép với mục đích sử dụng
Tranh chấp với DSW liên quan đến các bản ghi trong hoạt động quảng bá trên mạng xã hội của một nhà bán lẻ. Hãng đĩa xem xét một chương trình quảng bá dự kiến có thể biến tình huống đó thành câu hỏi cấp phép cụ thể: bản ghi nào sẽ xuất hiện, ai sẽ đăng bài và thỏa thuận cho phép mục đích quảng bá nào? Câu trả lời phải dựa trên thỏa thuận áp dụng cho chiến dịch đó. Việc một tranh chấp khác đã kết thúc không thể lấp chỗ trống trong thỏa thuận.
Đề nghị của Suno cần một cách xem xét khác. Lập luận được nêu đề cập đến việc nhắc tên nghệ sĩ trong lời nhắc tạo nhạc. Lời nhắc, sản phẩm được tạo ra và bản ghi được cung cấp cho một chiến dịch là những đối tượng khác nhau cần xem xét. Nếu doanh nghiệp đề xuất nhiều hơn một hoạt động trong số đó, hãng đĩa nên ghi nhận quyết định riêng cho từng hoạt động. Việc chấp nhận lập luận về những từ được nhập vào lời nhắc tự nó không mô tả điều gì đã xảy ra với bản ghi hoặc xác định sản phẩm đầu ra có thể được sử dụng như thế nào.
Nguyên tắc tương tự cũng áp dụng khi nhạc sĩ cân nhắc đưa ra yêu cầu. Một nhóm gồm ba nhạc sĩ đề nghị rút vụ kiện bản quyền, nhưng việc rút một vụ kiện không cung cấp căn cứ để định giá một yêu cầu khác. Nhạc sĩ vẫn cần xác định tác phẩm liên quan, mục đích sử dụng bị cáo buộc và kết quả mong muốn trước khi quyết định có theo đuổi tranh chấp hay không. Kết quả tố tụng trong vụ kiện của người khác không thể đưa ra những lựa chọn đó.
Tách tình trạng vụ kiện khỏi tình trạng quyền
Nhóm quản lý quyền có thể lưu một bản ghi quyết định ngắn cho từng mục đích sử dụng dự kiến. Cách này giúp tránh việc một dòng tít pháp lý thay thế cho văn bản thực sự điều chỉnh danh mục tác phẩm:
- Xác định tài sản. Ghi tên bản ghi hoặc tác phẩm bị tác động bởi hoạt động dự kiến.
- Mô tả hoạt động. Nêu rõ đó là bài đăng quảng bá, việc nhắc tên trong lời nhắc hay một mục đích sử dụng cụ thể khác.
- Tìm giấy phép. Ghi lại thỏa thuận và các bên được thỏa thuận áp dụng, hoặc đánh dấu giấy phép là chưa được xác định.
- Ghi riêng tình trạng vụ kiện. Nêu hồ sơ liên quan là một yêu cầu, một lập luận hay việc rút đơn, nhưng không coi đó là giấy phép.
Bản ghi này cũng giúp trả lời câu hỏi về tiền bạc. Các điều khoản dàn xếp giữa Sony Music và DSW không được tiết lộ, vì vậy mức giá của thỏa thuận đó không thể làm căn cứ đối chiếu. Khi định ra điều khoản cho bản ghi của mình, hãng đĩa phải dựa vào những quyền mình kiểm soát và mục đích sử dụng mà họ được yêu cầu phê duyệt. Nếu kênh dự kiến hoặc nhà quảng cáo thay đổi, hãy đối chiếu đề xuất đó với giấy phép một lần nữa.
Đưa ra quyết định tiếp theo theo đúng căn cứ của nó
Ba tranh chấp cho thấy vì sao các cập nhật về tố tụng khó có thể áp dụng thành quy tắc vận hành. Một nhà bán lẻ và một công ty âm nhạc cùng kết thúc vụ kiện; các nhạc sĩ đề nghị kết thúc vụ kiện của họ; một công ty AI đề nghị tòa bác các yêu cầu nhằm vào mình. Những sự kiện đó không có cùng vị thế pháp lý và cũng không liên quan đến cùng một hành vi.
Với một hãng đĩa hoặc nghệ sĩ độc lập, quyết định áp dụng phải dựa trên từng trường hợp cụ thể: chỉ phê duyệt mục đích sử dụng sau khi xác định tài sản, hoạt động và giấy phép áp dụng cho cả hai. Hãy lưu mọi cập nhật về vụ kiện bên cạnh quyết định đó để tham khảo. Đừng để từ “rút đơn” thay cho giấy phép mà người dùng dự kiến chưa xuất trình.